Thursday, April 2, 2026

BIỆT KÍCH QUÂN BỊ LÃNG QUÊN Theo tài liệu trong cuốn ‘S.O.G.’ tác giả John L. Plaster Vũ đình Hiếu

 Những quân nhân được Hoa Kỳ tuyển mộ cho các hoạt động bí mật, đã từ từ hiện ra trong bóng tối của Việt Nam

 Trong câu chuyện này, có vài người đã đứng lên nói sự thật, trong đó có hai cấp chỉ huy trong quân đội Hoa Kỳ. Họ cho rằng, chính phủ Hoa Kỳ có một sự ràng buộc lương tâm, trả lương còn thiếu, quyền lợi cho họ và cứu xét hồ sơ di trú nhanh chóng cho những người còn ở Việt Nam. Tuy nhiên những cố gắng của họ không thành công, chính quyền Hoa Kỳ đã bỏ ra hàng triệu đô la để tìm kiếm những quân nhân Hoa Kỳ bị mất tích hoặc bị bắt tù binh trong trận chiến tranh Đông Dương, nhưng chẳng tìm được ai. Trong khi đó, chính quyền chi ra rất ít trong việc đem về những biệt kích quân Việt Nam vẫn còn sống sót qua những sứ mạng nguy hiểm.

Theo Tourison, một viên chức trong ngành tình báo bộ Quốc Phòng, chính quyền Hoa Kỳ qúa xấu hổ phải nhận trách nhiệm cho những hoạt động bí mật trong cuộc chiến. “Kế hoạch xâm nhập miền bắc đã thất bại và cấp lãnh đạo cũng đã tin là không đem lại kết qủa”. Ông ta nói tiếp “Cuối cùng, đó là điều ngu xuẩn, phí phạm nhân mạng, và tin tình báo không có giá trị. Điều đó có thể tượng trưng cho việc đánh giá thấp đối phương. Một lỗi coi thường địch quân mà chúng ta đã phạm phải nhiều lần trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam”.

Trong tháng đó, Bắc Việt bị tố cáo xử dụng tầu phóng thủy lôi tấn công hai chiến hạm Hoa Kỳ trong vịnh Bắc Bộ. Nhiều người cho rằng, đó là một cái cớ để Hoa Kỳ gia tăng mức độ tham chiến tại Việt Nam. Tổng Thống Johnson, nói rằng chuyện xẩy ra trong vịnh Bắc Bộ là hành động gây hấn, ra lệnh thả bom miền bắc trả đũa. Đó là bước đầu tiên trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ qua Việt Nam. Tuy nhiên, theo tài liệu trong lịch sử Hải Quân Hoa Kỳ, các biệt kích hải quân miền nam trong kế hoạch 34A đã đánh phá các mục tiêu dọc theo bờ biển miến bắc từ nhiều tháng trước. Những trận đột kích này, miền bắc cho rằng có sự phối hợp với các chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ.

Mặc dầu Vũ Đức Gương, cũng như nhiều biệt kích quân khác được nhận tiền trợ cấp của chính phủ, sau khi đã được định cư tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên những cố gắng, dành quyền lợi cựu quân nhân, ưu tiên cho những người còn kẹt trong trại tỵ nạn thất bại. Việc cứu xét, xem họ có xứng đáng hơn hàng trăm ngàn cựu quân nhân VNCH trong các trại tù cộng sản, rất đáng được thảo luận. Bộ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ thường đòi hỏi người cựu quân nhân có một thời gian phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ, mới được hưởng quyền lợi.

Qua những đạo luật đặc biệt của Quốc Hội, nhờ vậy một số cựu quân nhân Phi Luật Lân (Philippine) phục vụ trong những đơn vị dưới quyền chỉ huy của người Hoa Kỳ trong trận thế chiến thứ hai, được hưởng một số quyền lợi giới hạn. Trường hợp tương tự, quyền lợi về y tế, sức khỏe được dành cho người Ba Lan, Tiệp Khắc đã chiến đấu bên cạnh quân đội Đồng Minh trong hai trận thế chiến, nếu họ đã định cư ở Hoa Kỳ trên mười năm.

Trên chuyến xe lửa từ trại tù trở về nhà, Đinh Hung Nhi được nhìn thấy quê hương mình sau 18 năm tù đầy. Anh ta không thể nào quên được những hình ảnh đó. Khung cảnh đổ nát, nhà cửa bị trúng bom, và những hố bom rải rác khắp nơi. Tình trạng nghèo nàn, quá tồi tệ ở vùng Vinh làm cho anh ta không buồn ra khỏi toa xe lửa để co giãn gân cốt. Đó là năm 1982, đã bẩy năm sau khi cuộc chiến đã kết thúc. Khung cảnh đổ nát điêu tàn vẫn còn đó, thị trấn Vinh là nơi ăn bom nhiều nhất của Hải và Không Quân Hoa Kỳ.

Chuyến xe lửa tiếp tục đưa anh ta đi qua vùng phi quân sự mà trước đây chia đôi hai miền nam bắc, như hai quốc gia thù nghịch. Vào đến Huế, năm 1968, tết Nguyên Đán năm Mậu Thân, VC đã biến thành phố cổ kính với những đền đài, lăng tẩm thành bãi chiến trường đẫm máu. Những căn nhà cổ, cũ kỹ vẫn nằm dài trên con đường, và anh nhìn thấy những đứa bé lai Mỹ đã trưởng thành, đang bán trái cây, bánh kẹo trên đường phố. Anh tự hỏi, ai là người nuôi nấng, dậy dỗ những đứa trẻ kém may mắn đó! Những người cha, sinh thành ra chúng, những quân nhân Hoa Kỳ đã trở về quê hương của họ từ lâu. Hình ảnh những đứa bé này kéo dài cho đến thành phố HCM mà anh chỉ biết tên cũ là Saigon.

Đoạn cuối cuộc hành trình dài 700 dặm kết thúc khi anh đứng trước cửa căn nhà thân yêu, năm xưa của mình. Anh cũng không ngờ, mình được trở về nhà, như trong giấc mơ. Căn nhà nhỏ yên bình ở Vũng Tầu, một thành phố nghỉ mát, tắm biển. Lúc đó đã mười giờ đêm. Hơn hai mươi năm trước, anh đã tự ý rời bỏ căn nhà này, vì tuổi trẻ, tính bồng bột, nghe theo lời một cố vấn Hoa Kỳ nói rằng anh sẽ trở thành một người hùng. Bây giờ anh đã trở về, tuổi thanh niên không còn nữa, sức khỏe đã suy yếu qua những năm tháng tù đầy nơi miền bắc. Không một ai chào đón như một người anh hùng trở về... không một ai mong chờ anh.

Hai người công an “hộ tống” anh từ trại tù trở về đến nhà, đập cửa rầm rầm, họ lớn tiếng nói cho người trong nhà nghe anh đã được tha về. Anh nghe tiếng người trong nhà nói vọng ra, cằn nhằn. Người trong nhà từ chối không chịu mở cửa, ông em rể (chồng cô em gái, khi anh vẫn còn bị tù ngoài bắc) không tin, cho rằng anh là người giả mạo. Bà Mẹ của anh nay đã 75 tuổi, cũng không tin cho rằng anh là loài ma quỷ, yêu tinh hiện hình “Con tôi chết đã lâu rồi, thôi ông đi đi, tôi sẽ đọc kinh, cầu nguyện cho linh hồn ông”.

Bà Mẹ cũng có lý của bà ta, gần hai thập niên trôi qua, một quân nhân QL/VNCH đã đến thông báo cho bà ta rằng, con trai của bà đã từ trận trong một nhiệm vụ đặc biệt. Chết ở đâu, họ không trả lời được vì bí mật quân sự. Và ít lâu sau, gia đình nhận được một số tiền “tử” của anh, một nghiã cử của chính quyền Hoa Kỳ. Đó là tiền trả lương cho anh trong một năm phục vụ cho người Hoa Kỳ, khoảng 300 đô la.

Chẳng biết làm gì hơn, anh ta tiếp tục gõ cửa, cố gắng giải thích “Anh ta là anh ta”. Một người công an cũng nổi nóng la thật to “Ma quỷ cái gì! Anh ta trở về”. Cuối cùng anh nghe tiếng mở then cài, rồi hình ảnh người Mẹ năm xưa hiện ra ngay trước mắt. Nhận ra đúng người con trai của mình bằng xương bằng thịt, bà òa lên khóc rồi ngã xỉu trong đôi tay của anh. Anh bước vào trong nhà, ngồi xuống ghế. Trong lòng anh tê tái, không biết nói gì... chuyện xẩy ra, đã lâu lắm rồi.

Anh là một quân nhân trong toán biệt kích Romeo, gồm mười thanh niên trẻ Việt Nam, được người Hoa Kỳ tuyển mộ, huấn luyện và trả lương. Trong gần một thập niên, bắt đầu từ năm 1961, anh ta cùng với gần 700 thanh niên khác đã được gửi ra, xâm nhập miền bắc để phát động một cuộc chiến tranh du kích nơi hậu phương miền bắc Việt Nam. Mới đầu họ được cơ quan Trung Ương Tình Báo (CIA) chỉ đạo, sau đó là quân đội Hoa Kỳ. Những người may mắn còn sống sót đều bị bắt và phải trải qua những năm tháng trong các nhà tù ở ngoài bắc. Đến bây giờ, những người còn sống dần dần xuất hiện, mang trong lòng những câu hỏi về một cuộc chiến bí mật mà những sĩ quan cao cấp trong quân đội Hoa Kỳ cho rằng đó là động lực thúc đẩy Hoa Kỳ gia tăng cường độ chiến tranh tại Việt Nam.

Theo những sĩ quan trong quân đội, nhân viên tình báo, những nhà nghiên cứu quân sử, và những biệt kích quân, những toán biệt kích nằm trong chương trình hoạt động bí mật, có tên quân đội đặt cho là kế hoạch 34A, kéo dài từ năm 1961 đến năm 1970. Chương trình hoạt động bí mật này là những thất bại liên tục, bị giới chức lãnh đạo Hoa Kỳ hoài nghi về sự thành công.

Sedgwick Tourison, một người điều tra làm việc cho Ủy Ban Tìm Kiếm Tù Binh, Quân Nhân Mất Tích trong Thượng Viện, nói rằng, kể từ năm 1979, hàng trăm điệp viên, biệt kích quân đã được trả tự do từ những nhà tù nơi miền bắc Việt Nam. Nhiều người đã trở về mái nhà xưa, làm sửng sốt thân nhân của họ ở Việt Nam, những người thân đó đã được thông báo từ bao nhiêu năm trước rằng người lính biệt kích đã tử trận. Đã có khoảng 50, 60 cựu biệt kích quân đã thoát khỏi Việt Nam và đến được Hoa Kỳ. Những người khác vẫn còn sống trong các trại tỵ nạn trong vùng Đông Nam Á hay ở Việt Nam, nơi mà họ được đối xử như “phó thường dân”.

Con số chính xác về số biệt kích quân làm việc cho Hoa Kỳ thật khó biết. tất cả hồ sơ về cuộc chiến bí mật vẫn còn được giấu kín trong những trung tâm lưu trữ hồ sơ. Những tài liệu đã hết hạn bảo mật chỉ hé mở phần nào về số phận của những biệt kích quân này. Trong cố gắng tìm kiếm các quân nhân bị mất tích tại Việt Nam, Tourison cho biết trong thời gian khoảng giữa đến cuối thập niên 1980, ông ta đã phỏng vấn gần hết các cựu biệt kích quân đang sống tại Hoa Kỳ. Tin tức từ các biệt kích quân và những viên chức khác, Tourison ước lượng có khoảng 400, 500 trong tổng số 700 biệt kích quân đã phục vụ cho cơ quan CIA và quân đội Hoa Kỳ vẫn còn sống. Dale Andrade, một sử gia làm việc trong Trung Tâm Quân Sử Hoa Kỳ ở Washington ước tính có khoảng 200, 300 biệt kích quân nằm trong kế hoạch 34A (xâm nhập miền bắc VN).

Nhưng nếu chỉ đưa những câu hỏi về con số biệt kích quân, mà không nhắc tới kết qủa bi thảm cũng không được. “Không xứng đáng với những nỗ lực của họ. Theo sự đánh giá của tôi”, đó là lời phát biểu của đại tướng Westmoreland, cựu tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1968. “Không có hiệu quả. Chúng tôi nghi ngờ về các toán biệt kích, về những tin tức họ đem về. Không đóng góp nhiều trong cuộc chiến”.

Cái giá của sự thất bại, các biệt kích quân đã phải trả bằng nhiều năm. Bị kết tội “tội phạm chiến tranh”, họ phải gánh chịu những cực hình trong tâm thần, bỏ đói, ăn uống thiếu dinh dưỡng, cô lập, sống khổ sở. Đó là những hình phạt nhằm mục đích hủy hoại tinh thần hoặc giết họ lần mòn. Trong các trại tỵ nạn, các biệt kích quân chứng kiến những cựu quân nhân QL/VNCH chỉ bị tù cải tạo vài năm, được ung dung đi định cư tại Hoa Kỳ dễ dành, nhanh chóng hơn họ nhiều.

Nhiều biệt kích quân sau khi đã đến định cư tại Hoa Kỳ gặp khó khăn hội nhập với xã hội. Vài người vẫn còn thói quen, ăn rất ít như những bữa ăn trong tù, nhiều người vẫn chư khỏi bệnh tật. Ít người may mắn tìm được công việc thích hợp, những người khác nhận sự trợ giúp của chính phủ hoặc bạn bè, thân nhân hay đồng đội cũ. Tất cả đều đã hy sinh tuổi thanh xuân, và bị phản bội.

Hoa Kỳ đã đòi hỏi rất ít trong vấn đề trả tự do cho các biệt kích quân trong cuộc hòa đàm Paris, ký kết vào đầu năm 1973. Chính phủ Hoa Kỳ cũng từ chối, không cho họ được hưởng quyền lợi cựu quân nhân, mặc dầu họ đã làm việc cho người Hoa Kỳ. “Không có gì đáng nghi ngờ chúng tôi là ai”, đó là lời phát biểu của Lê Văn Ngung, một biệt kích quân bị tù 17 năm ngoài miền bắc và đến định cư ở thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland từ năm 1985. “Chúng tôi chiến đấu cho quốc gia. Nhưng theo nhận xét của tôi, chính phủ Hoa Kỳ phải làm điều gì hơn nữa thay vì quay lưng về phiá chúng tôi”. Ngày 4 tháng Hai năm 1967 là ngày sinh nhật thứ 23 của Lê Văn Ngung. Hôm đó, lính Bắc Việt vây quanh anh ta và nện anh ta bằng báng súng. Những ngày trước đó, trời mưa tầm tã, cả toán biệt kích bị đói, đã hết lương thực đem theo, lại phải chiến đấu trong những cánh rừng rậm rạp, chạy về hướng biên giới Lào tìm đường sống trong tuyệt vọng. Không còn sức chống cự, cả toán biệt kích Hadley bị bắt. Cũng như những toán biệt kích trong kế hoạch 34A trước đó, chuyến ra đi của toán Hadley đã gặp nhiều điều rủi ro, xui xẻo. Đội quân biên phòng Bắc Việt đã trông thấy trực thăng chở toán biệt kích xâm nhập băng qua biên giới Lào, vào miền bắc Việt Nam. Mười ngày sau, họ bắt sống được cả toán biệt kích, từ trong miền nam ra.

Gia đình Lê Văn Ngung được đại diện chính quyền miền nam thông báo rằng anh ta đã tử trận. Gia đình anh Ngung làm tang lễ cho anh, đâu biết rằng anh vẫn còn sống, bị giam cầm trong tù ngoài bắc, ở một nơi cách xa hàng trăm dặm. Biệt kích Lê Văn Ngung bị đưa ra tòa, kết án tù 16 năm về tội biệt kích gián điệp. Sau khi được tha về ít lâu, anh quay trở vào tù thêm sáu tháng nữa vì tội vượt biên.

Trong thời gian bị cầm tù qua các trại tù Phố Lu, Thanh Trì, và Phong Quang, anh Ngung phải làm việc lao động cực khổ cả ngày, chỉ được ăn bo bo thay cho cơm. “Không có gì cho bữa ăn buổi sáng. Thỉnh thoảng mới được một miếng sắn hay một cọng rau. Bo bo rất khó tiêu hóa, dễ bị bệnh về đường ruột”. Vấn đề vệ sinh trong tù rất thiếu thốn, hôi tanh mùi xú uế, nước tiểu và không có nước máy. Mỗi lần y tá vào quan sát đều phải mang khẩu trang, che mũi, miệng vì chỗ nào cũng bị ô nhiễm, mùi hôi vương vãi khắp nơi. Điều kiện sống trong tù khó khăn, người tù biệt kích Lê Văn Ngung vẫn chống đối việc cải tạo, không chịu học tập, mặc dầu đã bị cùm chân, nhốt riêng nhiều lần. Trong năm 1973, sau hiệp định Paris, miền bắc vẫn không chịu trả tự do cho anh và những người bạn tù, đồng đội khác. Lê Văn Ngung xách động, tổ chức tuyệt thực để phản đối chính quyền miền bắc. Và kết quả, anh bị cùm biệt giam sáu tháng. Khi được thả ra, anh đã mất đi một nửa trọng lượng 135 cân Anh, chỉ còn da bọc xương và một đồng đội, bạn tù đã phải cõng anh ra khỏi khu biệt giam. Nhưng người tù biệt kích Lê Văn Ngung vẫn sống sót, “Một điều tôi không thể làm được là quỳ gối, van xin kẻ thù”. Anh nói tiếp “Tôi vẫn phải giữ danh dự. Nếu không tôi cũng chẳng khác gì chúng”.

Đến năm 1976, sau gần mười năm bị đầy đọa, các tù biệt kích được cho phép viết thư về báo tin cho gia đình, lúc đó gia đình anh mới biết anh vẫn còn sống. Chuyện xẩy ra như trong giấc mơ. Những bức thư đầu nhận được từ gia đình, cha mẹ anh rất... ngần ngại. “Không biết có đúng không... Con sẽ không thể nào biết rằng Bố Mẹ đã vui sướng như thế nào, khi được tin con vẫn còn sống”. Cha mẹ anh vẫn chưa tin và trong những lá thư kế tiếp, anh đã kể lại những kỷ niệm lúc còn nhỏ, khi còn sống sung sướng dưới mái ấm gia đình, để cha mẹ anh tin là anh vẫn còn sống, không như chính quyền miền nam đã thông báo trước đây. Lúc đó cha mẹ Lê Văn Ngung mới đem tấm ảnh của anh trên bàn thờ xuống.

Anh Ngung thọ án tù xong, được trả tự do vào năm 1982, tuy nhiên vẫn bị quản thúc, theo dõi tại điạ phương, nơi anh cư trú. Sau nhiều lần vượt biên, anh đã thành công, đến Mã Lai năm 1984, sống trong trại tỵ nạn Mã Lai một năm trước khi được đến Hoa Kỳ định cư. Anh cho biết “Tôi biết còn bốn cựu biệt kích quân nữa, đang ở trong các trại tỵ nạn trong vùng Đông Nam Á. Họ không bị mất tích (MIA). Điều đáng buồn khi biết rằng chẳng ai lưu tâm đến họ”.

Kế hoạch hành quân được quân đội đặt tên cho là “34 Alpha”, bắt đầu từ năm 1961 là một kế hoạch bí mật của cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA, tổ chức và võ trang quân kháng chiến nơi miền bắc Việt Nam. Những hoạt động bí mật của Hoa Kỳ, thực sự bắt đầu từ năm 1954, sau khi hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam. Cơ quan CIA lập ra những nhóm chống cộng sản Việt Nam để tổ chức những đội quân du kích, bắt cóc, ám sát viên chức chính quyền miền bắc. Thiết lập những đường dây tình báo (điệp viên) và tuyên truyền chống chế độ. Nhưng những điệp viên gặp khó khăn tránh né hệ thống kiểm soát chặt chẽ của cộng sản. Rất ít điệp viên thoát được, và những cố gắng này kết thúc vào cuối thập niên 1950 với sự thất bại.

Theo tài liệu, phần nói về các hoạt động bí mật trong hồ sơ Ngũ Giác Đài (Pentagon papers, bộ TTM/QL Hoa Kỳ), bộ Quốc Phòng bàn cãi về chiến tranh Việt Nam. Vài năm sau, cơ quan CIA mở lại các hoạt động bí mật, sau khi Tổng Thống John F. Kennedy chấp thuận cho các hoạt động bí mật nơi miền bắc Việt Nam và ở bên Lào. Cựu giám đốc cơ quan CIA, William E. Colby lúc đó đang làm trưởng phòng đặc trách trông nom khu vực Đông Nam Á, bắt đầu xúc tiến một kế hoạch mới trong năm 1961.

Trần Quốc Hùng là một trong những người đầu tiên được tuyển mộ. Vào cuối thập niên 1950, ông ta bỏ công việc quản lý, trông coi cửa tiệm kim hoàn của gia đình ở Saigon. Qua hệ thống quân đội VNCH, ông Hùng trở thành người hướng dẫn cho ba nhân viên tình báo CIA Hoa Kỳ. Trong năm 1961, ông ta được người Hoa Kỳ đặt cho mật danh “Columbus” và được lệnh tuyển mộ những người miền bắc, có cảm tình với chế độ trong miền nam làm gián điệp, để trao một số tài liệu mật cho những người chống cộng ở Hà Nội.

Một chiếc tầu nhỏ của CIA đưa Hùng vào bờ biển miền bắc trong tháng Năm 1961, và người điệp viên với đầy đủ giấy tờ là một học sinh, tìm đường ra đến Hà Nội. Anh ta trao được một tài liệu mất, nhưng ngay tối hôm đó đã bị nhân viên an ninh miền bắc theo dõi. Trần Quốc Hùng cũng không ngờ làm sao “an ninh” miền bắc nhanh như thế. Và trong tháng Sáu, người điệp viên bị bắt và đưa vào nhà tù Hỏa Lò, sau này các phi công Hoa Kỳ bị giam đặt tên là Hà Nôi Hilton (một chuỗi khách sạn cỡ lớn, sang trọng ở Hoa Kỳ).

Theo lời cựu giám đốc cơ quan CIA, những điệp viên khác gửi ra ngoài bắc cũng không hiệu quả. Cơ quan an ninh, phản tình báo miền bắc bắt giữ gần hết những điệp viên, cơ quan CIA đưa từ trong miền nam ra. Theo hồ sơ lưu trữ của Bắc Việt, 34 điệp viên trong số 17 đường giây tình báo của cơ quan CIA đã bị giết, 140 người khác bị bắt giữ, và con số này chỉ tổng kết riêng cho năm 1963 mà thôi. Nhiều người trong số bị bắt này bị ép buộc làm việc cho tình báo miền bắc nên không thấy họ xuất hiện trước các phiên tòa ở Hà Nội.

Mặc dầu gặp phải khó khăn, cấp lãnh đạo Hoa Kỳ tái tổ chức các hoạt động bí mật lần thứ ba, trao trách nhiệm cho quân đội. Trong tháng Giêng 1964, bộ Tổng Tham Mưu quân lực Hoa Kỳ chấp thuận kế hoạch 34A, những hoạt động bí mật nơi miền bắc Việt Nam. Những hoạt động trong kế hoạch này được Ủy Ban 303 dưới quyền Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Mc George Bundy thông qua. Ủy ban này bao gồm viên chức cao cấp thuộc cơ quan CIA, bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao. Tất cả những hoạt động hàng ngày được CIA trao cho bộ tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam thi hành. Và đơn vị được trao cho nhiệm vụ này là Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (Study and Observation Group – đơn vị VNCH tương đương là Nha Kỹ Thuật).

Theo tài liệu trong quân sử Hải Quân Hoa Kỳ, những hoạt động bí mật được trao trách nhiệm cho quân đội từ ngày 20 tháng Mười Một năm 1963, khi bộ trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara ra lệnh tổ chức một chương trình quy mô, rộng lớn cho những hoạt động bí mật chống lại miền bắc Việt Nam. Lúc đó, ông Colby đang giữ chức vụ trưởng phòng CIA trong khu vực Viễn Đông đã lên tiếng cảnh cáo rằng kế hoạch đó sẽ không thành công. Ông ta giải thích thêm, những thất bại của cơ quan CIA tại Việt Nam cũng tương tự như những thất bại trong các hoạt động bí mật của cơ quan này tại Trung Hoa và Hàn Quốc vào cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950. “ý tôi muốn nói làm giảm bớt đi, nhưng các sĩ quan cao cấp trong quân đội thích làm to ra. Họ có tinh thần trách nhiệm, phải làm cho bằng được”.

Ăn mặc quần áo pyjama đen như nông dân, võ trang tiểu liên Thụy Sĩ K-9, súng lục, lựu đạn, các biệt kích quân được trực thăng hoặc tầu nhỏ đưa vào miền bắc Việt Nam. Cũng như cơ quan CIA đã làm trước đây, thường tuyển mộ người gốc miền bắc, còn trẻ, hăng say. Trong hồ sơ quân đội, sau khi đã huấn luyện xong, các biệt kích quân được đưa đi xâm nhập vào miền bắc để tổ chức kháng chiến, phá hoại các trại binh, căn cứ Hải Quân, theo dõi các cuộc chuyển quân, phá cầu, nhà máy điện, nước, v.v...

Các toán biệt kích thường được trao cho nhiệm vụ hoạt động có thể kéo dài nhiều ngày cho đến vài năm. Theo hồ sơ bộ Quốc Phòng, trong tháng Mười Hai năm 1963, bộ trưởng Quốc Phòng McNamara gửi văn thư cho Tổng Thống Lyndon B. Johnson nói về kế hoạch 34A “Xuất sắc... phá hoại miền bắc Việt Nam... bằng nhiều cách...”. Đại tướng Hoa Kỳ Earn Wheeler và tướng Maxwell Taylor, Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực đồng ý với kế hoạch.

Đến tháng Sáu năm 1964, những thất bại trong kế hoạch 34A từ từ hiện ra. Theo tài liệu trong quân sử Hải Quân, nhiều trận đột kích của Người Nhái, Biệt Hải vào các mục tiêu dọc theo bờ biển miền bắc, không đem lại kết qủa. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam lên tiếng “Có lẽ, được huấn luyện rất tốt, nhưng không gây được ảnh hưởng”. Đại tướng Westmoreland, sau này lên chức Tham Mưu Trưởng Lục Quân, đã bắt đầu nghi ngờ về thành quả của kế hoạch 34A trong tháng Bẩy. Cuối cùng, bộ trưởng Quốc Phòng McNamara bắt đầu lo ngại từ tháng Tám.

Mặc dầu đã có dấu hiệu thất bại trong kế hoạch 34A, nhưng cuộc chiến lan rộng và quân đội Hoa Kỳ được đưa sang Việt Nam ồ ạt với những đơn vị lớn. Tướng Westmoreland cho biết, ông được nghe thuyết trình về các hoạt động biệt kích ngoài bắc nhiều lần, nhưng lúc đó quá bận trong việc đưa các đơn vị lớn qua Việt Nam. Vài sĩ quan cao cấp khác, chỉ huy Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (SOG) như đại tá Donald Blackburn, sau này lên tướng và về hưu sống ở tiểu bang Florida, nói rằng có sự nghi ngờ, nhưng vẫn cứ gửi thêm biệt kích ra ngoài bắc. Ông ta nói thêm. Sau này chính ông ta ra lệnh rút ngắn hành quân biệt kích lại chỉ còn một tuần. (biệt kích STRATA, đoàn 11 Nha Kỹ Thuật).

Đến năm 1968, toán biệt kích cuối cùng trong kế hoạch 34A được gửi ra miền bắc. Theo Tourison, toán biệt kích này bị thả lầm xuống một vị trí phòng không. Hai năm sau, tất cả biệt kích trong các toán xâm nhập miền bắc Việt Nam đều đã bị giết, cầm tù, hay bị ép buộc làm việc với địch quân. “Các biệt kích quân Việt Nam rất can đảm, nhưng kế hoạch không thể nào thành công được”. Cựu trùm cơ quan CIA Colby nói thêm “Tôi đã cố gắng dẹp bỏ kế hoạch này sau một, hai năm thực hiện, nhưng quân đội muốn làm lại từ đầu. Theo tôi, họ cũng thất bại. Nhưng trong một cuộc chiến, bạn phải tìm... đủ mọi cách”.

Ngay từ lúc còn bé, sống ở miền bắc Việt Nam, Đinh Hùng Nhi đã muốn làm người anh hùng. Ngồi trong căn phòng nhỏ, anh ta kể lại... Trong thời gian huấn luyện, cố vấn Hoa Kỳ nói với bọn tôi rằng “Bất cứ chỗ nào anh đến, đều có... (quân bạn)”. Nhưng khi đặt chân xuống miền bắc Việt Nam, biệt kích Đinh Hùng Nhi chẳng thấy ai...

Là một biệt kích trong kế hoạch 34A, chuyến công tác đầu tiên dành cho Đinh Hùng Nhi cũng là nhiệm vụ cuối. Ngày 19 tháng Mười Một năm 1965, toán biệt kích Romeo được trực thăng đưa đi xâm nhập miền bắc Việt Nam. Nhiệm vụ của toán biệt kích, nằm vùng hai năm, dò thám và phá hoại. Nhưng khi xuống, toán biệt kích bị thất lạc trong rừng sáu tuần lễ vì bị đưa vào không đúng điạ điểm xâm nhập. Đến tuần lễ đầu tiên trong tháng Giêng năm 1966, toán biệt kích Romeo rơi vào ổ phục kích của đơn vị biên phòng Bắc Việt.

Cả toán biệt kích bị đưa đến một trại tù trong tỉnh Quảng Bình. Nơi đó, mỗi biệt kích quân bị biệt giam trong các căn hầm ngầm dưới đất “Một nấm mộ cho người sống”. Chín tháng sau, họ đưa anh Nhi đến trại tù Thanh Trì gần Hà Nội, và cũng bị biệt giam thêm một năm. Mỗi ngày được ăn một tô cơm đủ để người lính biệt kích sống sót cho đến ngày được trả tự do vào năm 1982. Hôm được tha về, họ cho anh 20 đồng (khoảng 20 xu) và anh đã dùng cả số tiền đó để ăn tô phở. Đó là bữa ăn quá thịnh soạn, quá lớn sau 16 năm tù đầy.

Khi về đến gia đình, tất cả mọi người đều mừng rỡ, có cả người bạn gái, hứa hôn năm xưa. Nguyễn Bẩy kể rằng “Mẹ anh ta báo tin cho tôi biết rằng anh đã chết”. Nhưng tôi vẫn tin tưởng anh Nhi vẫn còn sống và chờ đợi. Sáu tháng sau, hai người làm đám cưới, cô dâu kể tiếp câu chuyện “Anh kể cho tôi nghe, những gì anh đã trải qua trong thời gian tù đầy... và tôi đã khóc khi nhìn thấy những vết thẹo nơi hai cổ chân, hai cánh tay, lúc anh bị cùm biệt giam. Thêm những vụ đánh đập, hành hạ tù nhân, vấn đề vệ sinh, ăn uống thiếu thốn trong trại tù... Không phải một mình anh mà tất cả các đồng đội khác cũng gặp hoàn cảnh tương tự. Trên người anh vẫn còn đầy những vết thẹo”.

Đến năm 1990, biệt kích Đinh Hùng Nhi đã đem được vợ con đến Hoa Kỳ qua chương trình H.O. Trước khi đến được bến bờ tự do, anh Nhi còn bị tù thêm ba năm nữa về tôi vượt biên. Hiện nay, hoàn cảnh vẫn còn khó khăn, gia đình anh phải thuê nhà chung với một gia đình người bạn khác trong một căn apartment 450 đô la một tháng. Gia đình anh được trợ cấp 770 đô la mỗi tháng, kể cả phiếu thực phẩm. Hai vợ chồng ngủ chung giường với hai con: Anh Hồng lên sáu và Quân Hồng lên bốn. Tình trạng sức khoẻ của anh Nhi không được tốt, cùng với bệnh “suy nghĩ nhiều”, không tập trung, nên khó tìm việc làm.

Một năm sau khi toán biệt kích Romeo bị bắt, đại tá John K. Singlaub, sau này lên trung tướng, lên làm chỉ huy trưởng đơn vị SOG, trông coi kế hoạch 34A, nói rằng, chỉ một thời gian ngắn trong chức vụ, ông ta đã biết số phận các toán biệt kích ra ngoài bắc đã bị địch bắt. Nhiều nhân viên truyền tin trong các toán biệt kích bị tra tấn, ép buộc gửi những báo cáo sai lạc về cho đơn vị SOG. Thường họ dụ thả các toán biệt kích khác vào khu vực phục kích của họ, hoặc yêu cầu tái tiếp tế cho các toán biệt kích mà thực sự đã nằm trong tay họ. Đại tá về hưu, Fred Caristo, trước đó là đại úy làm việc trong kế hoạch 34A kể lại, có một lần họ nhận được công điện yêu cầu tiếp tế 30 khẩu súng lục cùng với ống hãm thanh, 200 cây thuốc lá Salem, 20 đồng hồ Seiko và một tá giầy da.

Đơn vị SOG phải loại bỏ những toán biệt kích mà bị nghi ngờ đang làm việc với địch quân (cắt liên lạc). Singlaub cho rằng, hệ thống an ninh của Bắc Việt rất chặt chẽ, rất khó thực hiện những hoạt động bí mật.

Dale Andrade, người có ít nhiều hoạt động bí mật trong cuộc chiến Việt Nam, nhìn lại vấn đề và cho rằng, các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đã đặt trọng tâm vào vấn đề chưa đủ, làm cho “tấm thảm kịch bi đát hơn”. Theo hồ sơ bộ Quốc Phòng, đó là một thảm kịch.

Cả hai biệt kích quân, Lê Văn Ngung, Đinh Hùng Nhi đều khai, có nhiều biệt kích quân bị bắt, chết vì bị bỏ đói, thiếu dinh dưỡng, bệnh tật. Những người chống đối bị phạt đưa vào khu biệt giam và bị cùm bên trong.

Đến cuối năm 1972, trong thời gian hòa đàm Paris đang diễn tiến, các biệt kích quân được ăn uống đầy đủ hơn, và được cung cấp quần áo mới. Trong nhà tù, các biệt kích quân đồn với nhau, sẽ được trả tự do. Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, hiệp định đình chiến được Hoa Kỳ, Bắc và Nam Việt Nam ký kết, trong đó có điều khoản trao trả tù binh trong vòng 60 ngày. Mặc dầu với gần 600 tù binh Hoa Kỳ được Bắc Việt trả tự do, các tù biệt kích vẫn không được trao trả, có người đã bị bắt trước khi các phi công Hoa Kỳ bị bắt. Để phản đối, các biệt kích quân tổ chức những cuộc tuyệt thực và bị cai tù đánh đập tàn nhẫn, không thương tiếc.

Thực ra, trong bàn hội nghị, người Hoa Kỳ không thể nào lên tiếng đòi hỏi miền bắc trả tự do cho các biệt kích quân. Người Hoa Kỳ đổ lỗi cho phiá VNCH “Làm sao chúng tôi mở miệng được. Kế hoạch 34A là những hoạt động bí mật, phải chối cãi. Mặc dầu chúng tôi tuyển mộ, huấn luyện, trả lương cho họ. Nhưng các biệt kích quân là người Việt Nam, Tổng Thống Thiệu là người phải đem họ về”.

Dường như, có đôi lần phiá VNCH đã muốn nói đến số phận các biệt kích quân bị giam giữ ngoài bắc. Theo lời một vị đại tá VNCH, ẩn danh, hiện đang sống ở Orange County (Quận Cam), VNCH đã soạn một danh sách hơn 100 biệt kích quân miền nam bị bắt ngoài bắc để đem lên bàn hội nghị. Nhưng sau đó, không nhắc đến.

Tourison, người viết quyển sách “Cuộc Chiến Bí Mật, Đạo Quân Bí Mật” nói rằng, có bằng chứng rõ ràng, Hoa Kỳ biết các biệt kích quân Việt Nam vẫn còn sống, nhưng không thương thuyết để họ được trao trả. Những phiên tòa xử biệt kích đã được đang tải trên báo chí, và phát thanh trên hệ thống truyền thanh miền bắc. Caristo cũng nhìn nhận, có những buổi phát thanh xử biệt kích trên làn sóng phát tuyến, sau khi gia đình họ đã được thông báo người lính biệt kích đã chết và trả tiền “tử” cho gia đình họ. “Hoạt động của chúng tôi đã thất bại và chúng tôi đã nói dối gia đình của họ”. Tourison nói thêm “Khi chúng ta có cơ hội đem họ về (hiệp định Paris), chúng ta lại bỏ qua”.

John Madison, một đại tá về hưu, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ sang Việt Nam để bảo đảm tất cả các tù binh Hoa Kỳ được trả tự do. Ông ta nói rằng, không nghe ai nói đến tù biệt kích, và phái đoàn ông ta qua Việt Nam, cũng không được lệnh đòi hỏi về họ. Theo ông ta, trách nhiệm về các tù biệt kích nằm trong tay VNCH. Ông ta không nhớ rõ, phiá VNCH có lần nào nói đến các tù biệt kích không. Đại tá về hưu Harry J. Summers, Jr. cùng đi với phái đoàn Hoa Kỳ nói rằng, các tù binh biệt kích đúng ra phải được trả về. Trong danh sách tù binh lại không có tên họ. Tôi không rõ, phiá Hoa Kỳ, hay các phái đoàn khác nhắc đến họ. Họ bị chính quyền miền bắc kết tội làm gián điệp... có lẽ vì thế không có tên trong danh sách tù binh.

Bẩy năm sau ngày ký hiệp định Paris (1980), người nhái Vũ Đức Gương là một trong những biệt kích quân đầu tiên trốn thoát khỏi nhà tù miền bắc, đến được Hoa Kỳ. Anh ta sống với bà Mẹ, vợ cùng ba con ở Chicago, tiểu bang Illinois.

Vũ Đức Gương, một người trong toán người nhái được đưa ra tấn công mục tiêu dọc theo bờ biền miền bắc Việt Nam. Ba chuyến đi trước đuợc hủy bỏ (thời tiết,...), chuyến thứ tư cũng là chuyến cuối cùng vào tháng Ba năm 1964. Anh Gương bị bắt, không tìm ra chiếc tầu của địch mà toán người nhái có nhiệm vụ gài mìn đánh chìm. “Trong lúc chúng tôi đang tìm mục tiêu khác... có mấy chiếc tầu địch chạy về phiá toán người nhái”. Anh tiếp tục kể câu chuyện “Họ nổ súng bắn vào toán người nhái, làm một người chết và một người khác bị thương”. Sau gần một tháng trốn tránh, những người sống sót trong toán người nhái bị bắt, khi họ đang tìm cách lội bộ về miền nam vĩ tuyến 17.

Đến năm 1980, anh được đưa đến một trại tù khác. Được đối xử tốt hơn, có vài người được phép về thăm gia đình. Tới phiên anh, người nhái Vũ Đức Gương đi luôn, không trở lại trại tù, trở thành kẻ trốn tránh bất hợp pháp. Sau đó anh cùng gia đình đi vượt biên bằng một chiếc ghe nhỏ, đến được bến bờ tự do.

Việc sửa đổi luật vể cựu chiến binh là một vấn đề phức tạp, phải thông qua Quốc Hội Hoa Kỳ. Caristo phát biểu “Nhiều tù binh biệt kích đã phải sống trong khung sắt gần hai mươi năm, họ xứng đáng được hưởng quyền lợi của một cựu quân nhân Hoa Kỳ”. Caristo nói thêm “Có đôi lúc, chúng quyền Hoa Kỳ đã nghĩ đến điều đó, nhưng dân chúng Hoa Kỳ chỉ muốn quên đi cuộc chiến tranh tại Việt Nam”.

Nhiều người Hoa Kỳ rất binh vực các biệt kích quân Việt Nam. Năm 1987, Tourison viết một lá thư cho chính quyền tiểu bang California, cho quyền lợi Nguyễn Văn Tân, một biệt kích trong kế hoạch 34A. Anh tân bị bắt vào năm 1965, và bị tù gần 20 năm. Anh ta là một trong những người tham dự cuộc tuyệt thực năm 1973.

Năm 1984, điệp viên Trần Quốc Hùng đến được Hoa Kỳ. Ông là người viết cuốn hồi ký “Thép Đen” rất nổi tiếng trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại.

Dallas, TX. April 1, 2010

CIA và Chương Trình Phụng Hoàng


Cho đến khi bị cấm vào giữa thập niên 1970, CIA trực tiếp tham gia các âm mưu ám sát Fidel Castro của Cuba và lãnh đạo Congo là Patrice Lumumba. CIA cũng khuyến khích các âm mưu dẫn đến việc ám sát Tổng thống Cộng hòa Dominica Rafael Trujillo, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm năm 1963, và Tướng René Schneider của Chile năm 1973. Chiến dịch ám sát quy mô lớn nhất là Chiến dịch Phoenix được tiến hành trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Việt Nam.
Twentieth Century Fund. (1992). The Need to Know: Covert Action and American Democracy, tr. 83.

Việt Nam, 1965–1970
Từ 1965–1968, các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Sài Gòn duy trì một danh sách hoạt động gồm các cán bộ VC bị đánh dấu để ám sát. Kế hoạch Phoenix năm 1969 đặt mục tiêu “vô hiệu hóa” 1.800 người mỗi tháng. Khoảng một phần ba số VC bị nhắm mục tiêu bắt giữ đã bị giết ngay lập tức. Các “ủy ban an ninh” được lập trong các trung tâm thẩm vấn tỉnh để quyết định số phận nghi can VC, nằm ngoài mọi kiểm soát tư pháp. Lực lượng Green Berets và SEAL hải quân là những nhóm được tuyển dụng nhiều nhất cho Phoenix. Toán B-57 của Green Beret cung cấp vỏ bọc hành chính cho các đơn vị tình báo khác. Một đơn vị là “Project Cherry”, được giao nhiệm vụ ám sát các quan chức Campuchia bị nghi hợp tác với Bắc Việt và KGB. Một đơn vị khác là “Project Oak” nhắm vào những người Việt Nam Cộng Hòa bị nghi cộng tác. Các đơn vị này do “Trợ lý đặc biệt về chống nổi dậy và hoạt động đặc biệt” chỉ huy, phối hợp với CIA và nằm ngoài quyền kiểm soát của Tướng Abrams.
Stein, J. (1992). A Murder in Wartime, tr. 360–361.

Việt Nam, 1966–1973
Từ 1/1968 đến 5/1971, CORDS báo cáo 20.857 VCI bị giết. Chính phủ VNCH báo cáo 40.994 người từ 8/1968 đến giữa 1971. Theo thống kê của CORDS, 12,4% số tử vong có thể quy cho Phoenix. Kenneth Osborn của chương trình nói rằng Phoenix trở thành một chương trình giết người phi nhân tính. Nhà phân tích Bộ Quốc phòng Thayer phát hiện 616 nghi can VCI bị Phoenix nhắm mục tiêu từ 1/1970 đến 3/1971 đã bị lực lượng Phoenix giết. Sau chiến tranh, Ngoại trưởng Bắc Việt Nguyễn Cơ Thạch nói rằng chương trình ám sát của CIA đã giết nhiều hơn con số 21.000 mà Hoa Kỳ công bố. Ở một số vùng miền Nam, 95% cán bộ cộng sản bị ám sát hoặc bị vô hiệu hóa bởi Phoenix.
Manning, R. (ed.) (1988). War in the Shadows: The Vietnam Experience, tr. 72.

Việt Nam, 1968–1972
Dưới Phoenix, các “ủy ban an ninh” trong các “trung tâm thẩm vấn tỉnh” quyết định số phận những người bị nghi thuộc Mặt trận.
Counterspy, Xuân/Hè 1978, tr. 8.

Việt Nam, 1969
Trong ấn phẩm “Vietnam Information Notes” tháng 7/1969, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu mục tiêu năm 1969 là loại bỏ 1.800 VCI mỗi tháng.
Frazier, H. (ed.) (1978). Uncloaking the CIA, tr. 97.

Việt Nam, 1973
Theo một quan chức Bộ Quốc phòng, 26.369 thường dân VNCH bị giết dưới Phoenix khi chương trình còn do Hoa Kỳ trực tiếp kiểm soát (1/1968–8/1972). Cũng theo nguồn này, 33.358 người bị giam giữ không xét xử. Năm 1973, Colby thừa nhận 20.587 người chết đến cuối 1971, 28.978 bị bắt, và 17.717 “hồi chánh”. Như vậy khoảng 30% người bị nhắm mục tiêu đã bị giết. Các thống kê Phoenix không phản ánh hoạt động của Hoa Kỳ sau khi tuyên bố rút khỏi quyền kiểm soát.
Counterspy, Xuân/Hè 1975, tr. 8.

Việt Nam, 1975
Tạp chí Counterspy mô tả Phoenix là “chương trình giết người chính trị bừa bãi và quy mô lớn nhất kể từ các trại tử thần của Đức Quốc xã trong Thế chiến II.”
Counterspy, Xuân/Hè 1975, tr. 6.

Việt Nam, 1982
Một cựu nhân viên Phoenix tiết lộ đôi khi có lệnh giết cả quân nhân Hoa Kỳ bị xem là rủi ro an ninh. Ông nghi ngờ lệnh đến từ cấp cao hơn CIA hoặc ONI.
Covert Action Information Bulletin, Hè 1982, tr. 52.

Việt Nam – Bản chất Phoenix
Phoenix nhằm “vô hiệu hóa” VCI (thu thuế, tiếp vận, cán bộ chính trị, chỉ huy địa phương…). Kế hoạch gửi các toán PRU hoặc cảnh sát đi hành động, và cái chết thường là kết quả, đôi khi là ám sát thuần túy.
Powers, T. (1979). The Man Who Kept the Secret, tr. 181.

Việt Nam – Con số tổng quát
Phoenix cướp đi hơn 20.000 sinh mạng (1965–1972).
U.S. Congress, Church Committee Report (1976), B1–27.

Việt Nam, 7/1971
Colby trình biểu đồ cho Dân biểu Reid cho thấy 67.282 người bị “vô hiệu hóa” bởi Phoenix từ 1968–1971: 31% bị giết, 26% hồi chánh, 43% bị bắt hoặc kết án.
Frazier, H. (ed.) (1978). Uncloaking the CIA, tr. 18.

Việt Nam, 1967–1973
Phoenix sử dụng các toán ám sát của CIA, trước đây là các toán “chống khủng bố”, sau gọi là PRU. Trên lý thuyết họ không đánh dấu mục tiêu để ám sát, nhưng thực tế PRU thường bắn trước. Người bị bắt thường bị tố cáo trong vùng do Sài Gòn kiểm soát, bị bắt tại trạm kiểm soát hoặc trong giao tranh rồi được xác định là VC.
Sheehan, N. (1988). A Bright Shining Lie, tr. 732.

Việt Nam – Phụng Hoàng
Chương trình Phụng Hoàng đặt chỉ tiêu cho tất cả 242 quận. Hậu quả là giết bừa bãi, mọi xác chết đều bị gán là VCI.
Powers, T. (1979). The Man Who Kept the Secrets, tr. 181–182.

Xung đột – Liên hệ
Giáo sư luật Roy L. Prosterman (ĐH Washington, Seattle) thiết kế chương trình cải cách ruộng đất mà Hoa Kỳ áp dụng tại Philippines, Việt Nam và El Salvador. Ở mỗi nơi, chương trình đi kèm khủng bố nông thôn. Tại Việt Nam, Phoenix giết 40.000 dân thường từ 8/1968 đến giữa 1971; tại Philippines là thiết quân luật; tại El Salvador là tình trạng giới nghiêm.
Covert Action Information Bulletin, Đông 1990, tr. 69.

Hệ quả
Phoenix là một thất bại, không thể kiểm soát và khuyến khích lạm dụng nghiêm trọng.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 323.

Việt Nam, 1975 – Hậu quả nhân sự
Theo Decent Interval của Frank Snepp, có đến 30.000 nhân viên cảnh sát đặc biệt, CIA và nhân viên liên quan Phoenix bị bỏ lại. Trạm CIA Sài Gòn chỉ di tản được 537 trong số 1.900 nhân viên Việt Nam, bao gồm gần 1.000 người cấp cao từng hợp tác lâu năm.
Covert Action Information Bulletin, 6–7/1979, tr. 4.

Việt Nam, 1968–1972
Phoenix do CIA và tình báo quân đội Hoa Kỳ phối hợp điều hành.
Counterspy, 5/1973, tr. 21.

Việt Nam, 1975
Quân đội Hoa Kỳ cung cấp khoảng 600 sĩ quan tình báo để hỗ trợ 40–50 sĩ quan CIA trong Phoenix.
Counterspy, Xuân/Hè 1975, tr. 8.

Việt Nam – Thẻ căn cước & Phoenix
Volkman & Baggett (1989). Secret Intelligence, tr. 150.

Việt Nam, 1965–1969
Nỗ lực CI/bình định do Pháp khởi xướng culminated in Phoenix – chính thức hóa tháng 6/1968 – bao gồm “giam giữ hàng loạt, tra tấn và ám sát”.
Counterspy, 5/1973, tr. 20.

Việt Nam, 1966–1973
Phoenix là sự tổng hợp giữa cảnh sát và bán quân sự. CIA quản lý census grievance, RD cadre, counterterror teams và PICs. Tình báo quân đội phối hợp MSS, ARVN và lực lượng địa phương. USAID quản lý chiêu hồi và an ninh công cộng.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 99.

Việt Nam, 1966
Phoenix bắt đầu nhằm tăng cường nhận diện hạ tầng VC và chuyển thông tin cho quân đội, cảnh sát để buộc hồi chánh, bắt giữ hoặc tấn công.
Colby, W. (1989). Lost Victory, tr. 266.

Việt Nam, 1967–1973
CIA đề xuất hợp nhất thông tin VC ở cấp quận, tỉnh và Sài Gòn. Ban đầu gọi là ICEX, sau đổi thành Phoenix. Đặt chỉ tiêu “vô hiệu hóa” VC.
Blaufarb, D.S. (1977). The Counterinsurgency Era, tr. 243–248.

Việt Nam – DIOCC
Trung tâm điều phối tình báo quận (DIOCC) tại Điện Bàn là mô hình chuẩn: nhà 10’ x 40’, gồm 2 lính Mỹ, 2 census grievance, 1 RD cadre, 1 đặc tình. Là nơi thu thập, phân tích và phân phối tin tức. Lực lượng phản ứng gồm 100 cảnh sát, 1 PRU, và hướng dẫn viên.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 126.

Việt Nam, 20/12/1967
Thủ tướng VNCH ký chỉ thị 89-T/VP/M hợp pháp hóa Phụng Hoàng.
Valentine, D. (1990), tr. 148.

Việt Nam, 1967
Phoenix ở giai đoạn sơ khai, do CIA thiết kế và triển khai.
Valentine, D. (1990), tr. 147.

Việt Nam, 1968
Thống kê Phoenix là giả tạo, thất bại và lừa dối.
DeForest & Chanoff (1990). Slow Burn, tr. 54–55.

Việt Nam, 1969
Chiến dịch 1969 đặt mục tiêu loại bỏ VCI. Mỗi tỉnh lập Ủy ban An ninh Tỉnh (PSC), kiểm soát NPFF và SP, vận hành PICs.
Counterspy, 5/1973, tr. 20.
CIA không hề có ý định giao lại nhiệm vụ tấn công hạ tầng VCI cho Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia. Các cố vấn CIA cho lực lượng Cảnh sát Đặc biệt khuyến nghị bắt đầu thành lập các đơn vị lực lượng tình báo đặc biệt (SIFU). Đây là các toán 8 người, gồm 4 tình nguyện viên từ Cảnh sát Đặc biệt và 4 từ Cảnh sát Dã chiến. SIFU nhắm vào các VCI cấp cao, thay thế cho PRU. CIA dự định điều hành các cuộc tấn công vào VCI thông qua Special Branch, đồng thời giữ nguyên Phoenix như một cách đánh lạc hướng sự chú ý.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 391.

Việt Nam, 1971 – Cải tổ Phoenix
Trong quá trình sửa đổi Phoenix (do chính quyền bị cộng sản xâm nhập quá nhiều), bước đầu tiên là thuê Southeast Asia Computer Associates (do một sĩ quan CIA điều hành) để cố vấn cho khoảng 200 kỹ thuật viên Việt Nam tiếp quản hệ thống máy tính của MACV và CORDS. Người Việt được đưa vào hệ thống Big Mack và hệ thống quản lý thông tin Phụng Hoàng (PHMIS).
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 363.

Việt Nam, 1972
Trong báo cáo về hiệu quả Phoenix tháng 9/1972, chữ “Phụng Hoàng” bị gạch bỏ và thay bằng “chống khủng bố”. Phải chăng đây là dấu chấm hết của Phoenix? Một số hoạt động Phoenix vẫn tiếp tục trong năm 1973.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 403, 406.

Việt Nam, 1975
Hoa Kỳ vẫn dính líu đến Phoenix năm 1975. Chương trình được đổi tên thành “Sở Điều tra Cảnh sát Đặc biệt” (SPIS). Hoa Kỳ cung cấp cơ sở xử lý dữ liệu cho SPIS thông qua Computer Science Services Inc., đơn vị chạy dữ liệu tình báo qua máy tính để phân loại, tổng hợp rồi chuyển lại cho SPIS.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 415.

Việt Nam – Các chương trình liên quan
Phoenix, chương trình kiểm soát tài nguyên, trạm kiểm soát, chương trình thẻ căn cước, lực lượng cảnh sát bán quân sự gọi là Police Field Force – một đại đội cơ động 100 người, mỗi tỉnh ít nhất một đơn vị. USAID hỗ trợ nâng cấp cảnh sát, phát triển Học viện Cảnh sát Quốc gia, cải thiện thông tin liên lạc và hồ sơ, thiết lập máy vô tuyến hai chiều đến từng xã. Chương trình Chiêu Hồi. Các chương trình tạo ra người tị nạn. Ủy ban phối hợp tỉnh giám sát các hoạt động xây cầu, đường, công trình công cộng, khuyến nông, y tế…
Blaufarb, D.S. (1977). The Counterinsurgency Era, tr. 217–218.

Việt Nam, 1967–1973 – PRU
Phoenix sử dụng các toán ám sát của CIA, trước đây là các toán “chống khủng bố”, sau gọi là PRU. Trên lý thuyết họ không đánh dấu cán bộ để ám sát, nhưng thực tế PRU thường bắn trước trong vùng tranh chấp. Người bị bắt thường bị tố cáo trong vùng do Sài Gòn kiểm soát, bị bắt tại trạm kiểm soát hoặc trong giao tranh rồi được xác định là VC.
Sheehan, N. (1988). A Bright Shining Lie, tr. 732.

Việt Nam – Phoenix
Ranelagh, J. (1986). The Agency, tr. 437–441.

Việt Nam – Cảnh sát & an ninh công cộng
An ninh công cộng bao gồm chương trình của Đại học Michigan State. Kiểm soát tài nguyên nhằm điều tiết sự di chuyển của người và vật chất, lập trạm kiểm soát đường bộ và đường thủy, trạm lưu động. Kết quả: 560.000 vụ bắt giữ đến năm 1969. Chương trình đăng ký căn cước quốc gia: mọi người Việt từ 15 tuổi trở lên phải đăng ký và mang thẻ, lấy dấu vân tay, ảnh và dữ liệu sinh học. Cảnh sát Đặc biệt giám sát nghi can, thâm nhập tổ chức bị xem là lật đổ, dùng dữ liệu điều tra để phân loại “tốt/xấu”. Phoenix là nỗ lực hệ thống hóa thu thập và khai thác tình báo. Tất cả cơ quan tình báo VNCH, CIA và quân đội Hoa Kỳ cùng chia sẻ dữ liệu từ chỉ điểm và tù binh. Từ đó cảnh sát và PRU mở các cuộc hành quân để bắt hoặc tiêu diệt VCI.
Xem thêm Klare, M.T. (1972). War Without End, tr. 265.

Việt Nam, 1966–1971 – Mục tiêu “điểm gãy”
Phoenix được thiết kế để giúp quân đội Hoa Kỳ đạt “điểm gãy”, nơi số VC chết và bị thương vượt quá khả năng bổ sung. Tháng 4/1967, Tổng thống Johnson công bố thành lập CORDS. Robert Komer làm phó tư lệnh MACV–CORDS. Ngân sách CORDS khoảng 4 tỷ USD (1968–1971). CORDS là bộ máy quản lý bình định, gồm quân sự và dân sự. Đến 1971 có 3.000 quân nhân và 1.200 nhân viên dân sự. USAID phụ trách viện trợ vật chất; Bộ Ngoại giao và USIA cung cấp nhân sự; CIA giữ vai trò then chốt.
CORDS tái lập các đội công tác bình định (RD Cadre): mỗi đội 59 người, gồm 3 toán an ninh 11 người và 25 cán bộ công tác xã hội. Họ ở lại làng 6 tháng để thực hiện “11 tiêu chí và 98 công tác bình định”, trong đó có:
1. Tiêu diệt cán bộ…
2. Tiêu diệt hương chức “ác ôn”…
Hệ thống đặt 40.000 máy vô tuyến hai chiều trong các làng. Cải cách ruộng đất thất bại. Các đội RD giúp lập lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân (RF/PF), chịu thương vong rất cao (55–66% thương vong của VNCH). Họ gây ra 30% thương vong cho phía cộng sản.
Phoenix bao gồm “census grievance”, thực chất là gián điệp nằm vùng. Tất cả thông tin được đưa vào chương trình ICEX. Theo yêu cầu của Komer, VNCH lập bộ phận phối hợp với CIA để tổng hợp báo cáo về hạ tầng VC. Thông tin từ census grievance, quân đội, cảnh sát, PRU, RF/PF. Người bị bắt – nếu không bị giết – được đưa đến PIC, nhà tù vùng và trung tâm quốc gia, tất cả do CIA tài trợ. Chỉ tiêu số lượng VCI phải “vô hiệu hóa” mỗi tháng dẫn đến tra tấn trong thẩm vấn.
Manning, R. (ed.) (1988). War in the Shadows, tr. 55–65.

Việt Nam, 1971 – Lời khai Colby
Ngày 19/7/1971, William Colby khai trước Tiểu ban Thượng viện rằng Phoenix đã giết 21.587 công dân Việt Nam từ 1/1968 đến 5/1971. Khi được hỏi liệu Phoenix có bao giờ “giết có chủ ý một thường dân ngoài chiến đấu” hay không, Colby trả lời:
“Không, tôi không thể nói như vậy… Tôi chắc chắn sẽ không bao giờ nói ‘không bao giờ’.”
Counterspy, 12/1978, tr. 6.

Việt Nam, 1967
MACV phân bổ cho Phoenix 126 sĩ quan và hạ sĩ quan. Cuối 1967, mỗi DIOCC trong số 103 trung tâm đều có một hạ sĩ quan. Tất cả quân nhân được phân công cho Phoenix đều nhận lệnh từ CIA.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 145.

Việt Nam, 1968–1973
Phoenix – một chiến dịch CI/khủng bố – được tài trợ và che đậy bởi USAID, khảo sát bình định CORDS, các dự án việc làm công cộng và các cơ quan “hiền lành” khác.
Counterspy, 5/1973, tr. 22.

Việt Nam, 1971 – 1,7 tỷ USD
1,7 tỷ USD được chuyển cho CORDS trong Phoenix. Colby từ chối kiểm toán trước Quốc hội.
Counterspy, 5/1973, tr. 24.

Việt Nam, 1971 – Tiền thất thoát
Khi bị chất vấn về 1,7 tỷ USD không thể kiểm toán, Colby trấn an rằng “các vấn đề chính đã được giải quyết” và Quốc hội có thể yên tâm rằng “những sai lệch tàn bạo” sẽ được giảm thiểu. Ông không biết Phoenix đã giết bao nhiêu người vô tội – “có thể 5.000, có thể hơn”. Ông không có thẩm quyền giải thích lý do Quốc hội không thể kiểm toán số tiền này.
Counterspy, 5/1973, tr. 24.

Việt Nam, 1969 – Phân loại mục tiêu
Colby làm cho thủ tục pháp lý trở nên vô nghĩa. VCI được chia thành 3 loại:
A: lãnh đạo, đảng viên
B: người giữ chức vụ quan trọng
C: cấp cơ sở
Loại C bị bỏ qua vì Phoenix tập trung vào bộ máy chỉ huy. Hệ thống HES được giải thích. HES ước tính VCI tháng 1/1969 là 75.000.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 260.

Việt Nam, 1971 – Điều trần Hạ viện
Tiểu ban Hạ viện điều tra Phoenix. Colby khẳng định chương trình “đáng tin cậy”, mức độ tàn bạo đã giảm. Ước tính 5.000 người bị giết. Quốc hội bị từ chối quyền kiểm toán.
Counterspy, 5/1973, tr. 24.

Việt Nam, 1967–1973 – Bản chất Phoenix
CIA phát triển Phoenix năm 1967 để “vô hiệu hóa” VCI: giết, bắt hoặc buộc hồi chánh. VCI là dân thường bị nghi ủng hộ cộng sản. Mục tiêu là dân sự, không phải quân sự. Phoenix (Phụng Hoàng) hoàn toàn không có thủ tục pháp lý. Người Việt Nam có tên trong danh sách đen có thể bị tra tấn, giam 2 năm không xét xử hoặc bị giết.
Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, tr. 13.

CIA and Operation Phoenix in Vietnam
by Ralph McGehee, 1996-02-19

Until outlawed in mid 70s CIA directly involved in assassination attempts against Castro of Cuba, and Congolese leader Lumumba. CIA also encouraged plots that resulted in assassination of Dominican Republic President Trujillo, South Vietnamese president Ngo Dinh Diem in 63 and Chilean Rene Schneider in 73. Most extensive assassination op was Operation Phoenix conducted during latter part of VN war. Twentieth Century Fund. (1992). The Need to Know: Covert Action and American Democracy, 83.

Vietnam, 65-70 details re Vietnam. From 65-68 U.S. and Saigon intel services maintained an active list of VC cadre marked for assassination. Phoenix Program for 69 called for "neutralizing" 1800 a month. About one third of VC targeted for arrest had been summarily killed. Security committees established in provincial interrogation centers to determine fate of VC suspects, outside of judicial controls. Green Berets and navy SEALs most common recruits for Phoenix Program. Green Beret detachment B-57 provided admin cover for other intel units. One was project cherry, tasked to assassinate Cambodian officials suspected of collaborating with NVNese, and kgb. Another was project oak targeted against svnese suspected collaborators. They controlled by special assistant for counterinsurgency and special activities, which worked with CIA outside of general abrams control. Stein. J. (1992), A Murder in Wartime, 360-1.

Vietnam, 66-73 Phoenix op from 1/68 thru 5/71, CORDS reported 20,857 VCI killed. Gvt of VN reported 40,994 from 8/68 thru mid 71. Per cord statistics 12.4% Deaths could be attributed to Phoenix ops. Kenneth osborn of program said Phoenix became a depersonalized murder program. A dept of defense analyst thayer, found that 616 suspected VCI targeted by Phoenix from 1/70 thru 3/71 were killed by Phoenix forces. After war NVNese foreign minister Nguyen Co Thach said CIA's assassination program slaughtered far more than the 21,000 officially listed by the U.S. In some parts of south 95% of communist cadre assassinated or compromised by Phoenix. Manning, R., (ed), (1988), War in the Shadows: the Vietnam Experience, 72.

Vietnam, 68-72 Under Phoenix "security committees" in provincial "interrogation centers" would determine fate suspected NLF. Counterspy spring/summer 78, 8.

Vietnam, 69 Under Phoenix in July 69 "Vietnam information notes," a state dept publication said target for 69 elimination of 1,800 VCI per month. Frazier, H. (ed). (1978), Uncloaking the CIA, 97.

Vietnam, 73 According to Defense Dept official 26,369 South Vietnamese civilians killed under Phoenix while op under direct U.S. control (Jan 68 thru Aug 72 ). By same source, another 33,358 detained without trial. Colby in 73 admitted 20,587 deaths thru end 71 , 28,978 captured, and 17,717 "rallied" to Saigon gvt. Thus approx 30% targeted individuals killed. All Phoenix stats fail to reflect U.S. Activity after "official" U.S. Control of op abandoned. Counterspy spring/summer 75 8.

Vietnam, 75 Counter-spy magazine describes Phoenix Program as "the most indiscriminate and massive program of political murder since the nazi death camps of world war two." Counterspy spring/summer 75 6.

Vietnam, in 82 Ex-Phoenix operative reveals that sometimes orders were given to kill U.S. military personnel who were considered security risks. He suspects the orders came not from "division", but from a higher authority such as the CIA or the ONI. Covert Action Information Bulletin (now Covert Action Quarterly) summer 82 52.

Vietnam. Phoenix Program to neutralize VCI (tax collectors, supply officers, political cadre, local military officials, etc). Plan to send pru or police teams to get in practice, death the frequent result of such ops, some times through assassinations pure and simple. Powers, T. (1979), The Man Who Kept the Secret, 181.

Vietnam. Phoenix Program took over 20,000 lives, 65-72 U.S. Congress,Church Committee Report. (1976) B 1 27.

Vietnam, July 71 Colby inserted chart to Representative Reid showing that some 67,282 persons had been neutralized by Phoenix ops against VC between 68-71 Of these 31 percent had been killed, 26% rallied, and 43% captured or sentenced. Frazier, H. (ed). (1978). Uncloaking the CI, 18.

Vietnam, 67-73 The Phoenix Program used the CIA's assassination squads, the former counter terror teams later called the provincial reconnaissance units (PRU). Technically they did not mark cadres for assassinations but in practice the pru's anticipated resistance in disputed areas and shot first. People taken prisoner were denounced in Saigon-held areas, picked up at checkpoints or captured in combat and later identified as VC. Sheehan, N. (1988), A Bright Shining Lie, 732.

Vietnam, Phoenix Program, late 60 early 70 took over 20,000 lives in Vietnam. U.S. Congress,Church Committee Report. (1976) B 1 27.

Vietnam. Phung Hoang aka Phoenix Program quotas for units set by komer for all 242 districts. One result indiscriminate killing with every body labeled VCI. Powers, T. (1979), The Man Who Kept the Secrets, 181-2.

Conflict, li.

Law professor at University of Washington, Seattle, Roy L. Prosterman, designed the land reform program the U.S. Government promoted in the Philippines, Vietnam, and El Salvador. In each place the program was accompanied by a rural terror. In Vietnam the Phoenix Program killed 40,000 civilian between August 68 and mid-71; in Philippines, martial law; in El Salvador, a state of siege. Covert Action Information Bulletin (now Covert Action Quarterly) Winter 90 69

Consequences.

Vietnam, 67-70 Phoenix a fiasco, it unmanageable and encouraged outrageous abuses. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 323.

Vietnam, 75 according to Frank Snepp's Decent Interval up to thirty thousand special police, CIA and Phoenix related Vietnamese employees were left behind. Saigon CIA station managed to pull out only 537 of its 1900 Vietnamese including close to 1000 high-level Vietnamese who had built close relationships with the agency over the years. Covert Action Information Bulletin (now Covert Action Quarterly) 6-7/79 4.

Vietnam, 68-72 CI Phoenix project run jointly CIA and U.S. Army military intel. Counterspy 5/73 21.

Vietnam, 75 U.S. military provided approx 600 case officers to supplement 40-50 CIA case officers for Phoenix ops. Counterspy spring/summer 75 8.

Vietnam. The Phoenix and the identity card programs. Volkman, E., & Baggett, B. (1989), Secret Intelligence, 150.

Vietnam, 65-69 CI/pacification efforts initiated by French culminate in Phoenix Program designed to eliminate Viet Cong infrastructure. Made official June 68, Phoenix was intensification of ci ops and involved "mass imprisonment, torture and assassination." For thorough Phoenix description seeCountersp 5/73 20.

Vietnam, 66-73 Phoenix Program synthesis police and pm programs. CIA managing census grievance, rd cadre, counterterror teams and pics. Military intel working with mss, ARVN intel and regional and popular forces. Aid managing chieu hoi and public safety, including field police. Needed to bring altogether under special police. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 99.

Vietnam, 66 beginning of Phoenix Program. Lv 218. Phoenix to increase identification VC infrastructure and passing info to military, police, and other elements who were to induce defections, capture them, or attack them in their strongholds. Colby, W. (1989). Lost Victory, 266.

Vietnam, 67-73 In 67 CIA proposed all U.S. Intel agencies pool info on VC at district, province and Saigon levels for exploitation. Program first called intel coor and exploitation program (icex). Phoenix the name of program. Assigned quotas for VC to be neutralized. To focus police and intel orgs. Against communist apparatus. Blaufarb, D.S. (1977), The Counterinsurgency Era, 243-8.

Vietnam, 67-73 District intel ops coor center (diooc). Dien ban center a model for all of Phoenix. Bldg 10' x 40'. Manned by two U.S. soldiers, 2 census grievance, one rd cadre, and one special branch. Diooc intel clearinghouse to review, collate, and disseminate info. Immediate local reaction. Americans kept files of sources, VCI and order battle. Reaction forces 100 police, 1 PRU unit, guides from census grievance. Marines screened civilian detainees using informants and diooc's blacklist. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 126.

Vietnam, 67 12/20/67 Prime Minister signed directive 89-th. T/vp/m legalizing Phung Hoang, VN clone of Phoenix. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 148.

Vietnam, 67 Phoenix Program in fledgling stage conceived and implemented by CIA. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 147.

Vietnam, 68 Phoenix Program statistics were phony a bust and a fake. DeForest, O., & Chanoff, D. (1990), Slow Burn, 54-55.

Vietnam, 69 Program of 69 campaign called for elimination of VCI. Program became known as Phung Hoang or Phoenix. In each province the chief established a province security committee (PSC). PSC controlled the npff and sp who maintained province interrogation centers (pics). Counterspy 5/73 20.

Vietnam, 71 CIA had no intention handling over attack on VCI to national police command. CIA advisers to special police advised to begin forming special intel force units (sifu). 8-Man teams composed of 4 volunteers each from special police and field police. Sifu targeted at high-level VCI, as substitutes for pru. They sign CIA planned manage attack on VCI thru sb, while keeping Phoenix intact as a way of deflecting attention. Valentine, D. (1990), The Phoenix Program, 391.

Vietnam, 71 In revising Phoenix Program (because of all communist penetrations in gvt) first steps to hire southeast asia computer associates (managed by a CIA officer) to advise 200-odd VNese techs to take over MACV and CORDS computers. VNese were folded into big mack and Phung Hoang management info system (phmis). Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 363.

Vietnam, 72 In report on Phoenix effectiveness in 9/72 Phung Hoang crossed out and anti-terrorist inserted. The end of Phoenix? Some Phoenix ops in 73. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program 403, 406.

Vietnam, 75 U.S. Still involved in Phoenix in 75. Program renamed special police investigative service (spis). U.S. provides data processing facilities for spis thru, Computer Science Services, inc. Which runs intel thru machines to classify and collate them and then turns info over to spis. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 415.

Vietnam. Phoenix Program, resources control program, checkpoints, identification card program, paramilitary police called the police field force a 100 man mobile company at least one assigned to each province. Aid helped upgrade police and developed national police academy, improved communications and files, established one two-way radio in every village. Chieu hoi program. Refugee generation programs. Province coordinating committees supervised civic action on bridges, roads, public buildings, agricultural extension work, medical technicians and more. Blaufarb, D.S. (1977). The Counterinsurgency Era, 217-8.

Vietnam, 67-73 The Phoenix Program used the CIA's assassination squads, the former counter terror teams later called the provincial reconnaissance units (PRU). Technically they did not mark cadres for assassinations but in practice the PRU's anticipated resistance in disputed areas and shot first. People taken prisoner were denounced in Saigon-held areas, picked up at checkpoints or captured in combat and later identified as VC. Sheehan, N. (1988), A Bright Shining Lie, 732.

Vietnam, Phoenix. Ranelagh, J. (1986), The Agency 437-441.

Vietnam, police. Public safety included Michigan State University program. Resources control, effort to regulate movement resources both human and material. Includes set up checkpoints roads and waterways, mobile checkpoints. Resulted in 560,000 arrests by 1969. National identity registration program. Every VNese 15 or older must register and carry identification card. Fingerprints obtained. Once completed program to include fingerprints, photos and bio data. Surveillance of suspects role of special police branch. Sp agents penetrate subversive organizations and use intel collection, political data and files from census data to separate good from bad. Pacification or Phoenix Program. Systematic effort at intel collection and exploitation. All intel services and America's CIA and military intel orgs. Pool data from informers and prisoners. With this info police and provincial reconnaissance units make raids in contested areas to seize or eliminate VCI agents. See Klare, M.T. (1972), War Without End, 265 for more death squads.

Vietnam, 66-71 Phoenix op designed to help U.S. Military reach crossover point, where dead and wounded exceeded VC's ability to field replacements. In 4/67 Pres Johnson announced formation of civil ops and revolutionary development support (CORDS) for pacification. R. Komer as deputy commander of MACV-CORDS. CORDS budget about $4 billion from 68-71. CORDS the management structure for pacification programs. Personnel both military and civilian. By 71, 3000 servicemen, advisers to ARVN, placed under CORDS. 1200 Civilians by 71. Usaid responsible for material aid. State and USIA also provided personnel. But CIA played the crucial role. CORDS reinstated civic action teams under name revolutionary development cadre. Rd program formed teams of 59 SVNese, divided into 3 11-man security squads and 25 civic action cadres. Teams to spend 6 months in a village to fulfill "eleven criteria and 98 works for pacification." 1. Annihilation of ...Cadre; 2. Annihilation of wicked village dignitaries; etc. System placed 40,000 two-way radios in villages. Land reform failed. (Photos of Phoenix propaganda material). Teams helped create regional and popular forces (rf/pfs). Ruff-puffs, suffered high casualties. They represented half of SVN gvt forces, they had 55-66% of casualties. They inflicted 30% of communist casualties. Underground pm effort called Phoenix which included a "census grievance," stay-behind. He actually a spy. All info fed into intel coordination and exploitation program. VNese at Komer's request set up staff that with CIA was responsible for coordinating intel reports on VC infrastructure. Info from census grievance, military, police reports. PM units - including CIA's provincial reconnaissance units and ruff-puffs. Arrestees - those not killed when captured - taken to provincial interrogation centers (pic). Also regional prisons and a national center all financed by CIA. Problems of coordination and jealousy. Numerical quotas created saying how many VCI to be eliminated each month. Torture used in questioning. Manning, R., (ed), (1988), War in the Shadows: the Vietnam Experience, 55-65.

Vietnam, 71 William E. Colby on july 19, 1971, before Senate subcommittee testified CIA op Phoenix had killed 21,587 Vietnamese citizens between 1/68 and 5/71. In response to a question from mr. Reid "do you state categorically that Phoenix has never perpetrated the premeditated killing of a civilian in a non-combat situation?" Colby replied: "No, I could not say that...I certainly would not say never." Counterspy 12/78 6.

Vietnam, 67 First MACV alloted Phoenix 126 officers and ncos. By end 67 one nco assigned to each of 103 dioccs then in existence. All military officers and enlisted men assigned to Phoenix Program took orders from CIA. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 145.

Vietnam, 68-73 Phoenix ci/terror op funded and covered by U.S. Aid, CORDS pacification survey, public employment projects, and other benign agencies. Counterspy may 73 22.

Vietnam, 71 1.7 Billion dollars go to CORDS in Phoenix Project. Colby refuses congressional audit Phoenix funds before committee. Counterspy 5/73 24.

Vietnam, 71 When questioned concerning unaccounted-for 1.7 Billion dollars which had financed much of covert aspect of Phoenix Program, Ambassador Colby assured house subcommittee on foreign ops and govt info, all main problems has been resolved and Congress could rest assured aberrations of brutality would remain at a minimum. He did not know how many innocent victims the program had killed, maybe 5,000, maybe more. He did not have authority to discuss reasons why Congress could not audit 1.7 billions worth of taxpayers funds which went to CORDS. Counterspy 5/73 24.

Vietnam, 69 Colby rendered due process obsolete. VCI target broken into three classes a, for leaders and party members; b, for holders of responsible jobs; c, for rank-and file. Decision c category to be ignored since Phoenix directed at VCI command and control structure. Hamlet Evaluation System (HES) explained. Hes guesstimate of VCI in 1/69 was 75,000. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 260.

Vietnam, 71 House subcommittee on foreign operations and gvt. Info. investigates Phoenix. Colby insists project "respectable", brutality minimized. Estimates 5000 killed. Congress denied audit of Phoenix funds. Counterspy may 73 24.

Vietnam, 67-73 CIA developed Phoenix Program in 67 to neutralize: kill, capture or make defect VCI. VCI means civilians suspected of supporting communists. Targeted civilians not soldiers. Phoenix also called Phung Hoang by VNese. Due process totally nonexistent. SVNese who appeared on black lists could be tortured, detained for 2 years without trial or killed. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 13.

Vietnam, 68 Phoenix ci/terror program established by Thieu's presidential decree, literally written by CIA man William Colby. Decree and future authorizations indicated that suspects could be arrested without a warrant or copy of charges and detained on basis of police dossier heresay evidence. Once arrested, suspect could not confront accusers or see dossier, was denied bail legal counsel, and was denied a trial or even a hearing. At best one's case was reviewed by province security committee composed of milt and intel officers. Under Phoenix all rights of due process stripped. Counterspy Winter 78 28.

Covert Action Information Bulletin 13:3, 16-17:6-10; 17:48-49; 22:2,4,6,10-24; "from Phoenix associates to civilian-military assistance," 22:18-19; "from the hessians to the contras: mercenaries in the service of imperialism," 22:10-11.

89 An article by Rob Rosenbaum from interviews with General Secord and Ted "Blond Ghost" Shackley. They give their answers to questions about Iran-Contra, secret war in Laos, Phoenix Program in Vietnam, CIA-Mafia plots of the sixties. Shackley discusses charges of opium smuggling in Laos by elements supported by CIA. Photos of Secord and Shackley. Shackley interview in his risk-assessment consulting firm, Rosslyn-based Research Associates International. Vanity fair, 1/90 72-77, 126-8,130-1 Vietnam 68-73 Evan Parker, Jr., John Mason, and John Tilton all from CIA were men who headed Phoenix Program when it supposedly transferred to military and CORDS. Roger McCarthy said CIA very much involved with Phoenix. Corn, D. (1994), Blond Ghost: Ted Shackley and the CIA's Crusades, 193.

Vietnam. John Murray, of WHD, and his wife Delores, former CIA ops officer, sending letters of disclosures re Shackley. He covertly contacted William Miller, staff director of Church Committee, and told how Shackley and Helms in 70 arranged to keep CIA from being implicated in My Lai massacres. (Some evidence suggested massacre related to CIA's Phoenix Program.) Corn, D. (1994), Blond Ghost: Ted Shackley and the CIA's Crusades, 302.

Vietnam, 67 50 officers and enlisted men invited to join counter insurgency program. Those who accepted by CIA joined as junior officer trainees. Most assigned to provinces as rdc/p or rdc/o advisers and many as Phoenix coordinators. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 198.

Vietnam, 68-69 Robert K. Brown (later editor of Soldier of Fortune magazine) worked with James K. Damron, CIA's project coordinator for the Phoenix Program in Gia Dinh province. Pigeon, R. (1986). The Soldier of Fortune, 44.

Vietnam, Orrin DeForest, with U.S. Air Force special investigations early on. Joined CIA in 68 as chief interrogator Hau Nghia province in bien hoa under cover of Office of Special Assistance (OSA). Duties included inspection of pics, training VNese in interrogation. Monitoring intel production. He discovered pics poorly run, Phoenix Program slipshod, and CIA had been unable generate single agent. Using methods learned while working with Japanese national police in identifying, communist agents, disregarding CIA methods, DeForest's efforts produced 80% hard intel in VN. Minnick, W. (1992). Spies and Provacateurs, 50-1.

training, 55 Eisenhower establishes public safety program whose goal is to train foreign police units in, among other things, counterinsurgency. 62 Program becomes Office of Public Safety which eventually procures 400 officers in 45 countries and yearly budget 50 million. Much of Phoenix funding and training was thru Office of Public Safety. By 75 ops had distributed 200 million in equipment foreign police, trained 7000+ senior police officials, and trained over 1 million rank and file police officers worldwide. Counterspy Winter 78 29-30.

Vietnam, 75 Counter-spy magazine describes Phoenix Program as "the most indiscriminate and massive program of political murder since the nazi death camps of world war two." Counterspy Spring/Summer 75 6.

Vietnam. Former Phoenix advisor Wayne Cooper said "Operation Phoenix was a unilateral American program", and Klare confirmed by saying "although most of the dirty work was performed by indigenous operatives, Phoenix was designed, organized, financed, and administered by U.S. authorities." Counterspy Winter 78 27.

Vietnam. "Phoenix demonstrated that the U.S. Government through the CIA will create, impose, and conduct an operation in another country without a semblance of a mandate from a given people or their representatives as long as the operation is considered in interest of U.S. governmental objectives." Counterspy Winter 78 27-8.

Vietnam, 59-69 the SEALs and the Phoenix Program. The Intel Coordination and Exploitation Program (ICEX) was a joint MACV/CIA op - forerunner of Phoenix. SEALs helped train VNese personnel. SEALs assigned ops detachments. SEALs worked with PRUs. By 68, with prisoner snatches, ambushes, and increasing VC defections, ICEX program neutralizing 800 VCI every month. Phoenix began 7/1/68. Description of the province intel ops coordinating center (piocc) and the district (diocc). Combatting VCI in urban areas responsibility of national police force and police field force. SEALs taught PRUsin mekong delta. Description of prus. They the most effective native troops. By end of 68, the iv corps PRUswere almost entirely advised by seal personnel. Seal advisors accompanied PRUson average of 15 missions a month. Description of ops. Dockery, K. (1991). SEALs in Action, 167-176.

Vietnam, 68-73 ttwo small groups wreaked havoc on the VCI. The Provincial Reconnaissance Units (PRU) and the Navy's SEALs. PRUs and SEALs often worked together and both killed many VCI and guerrillas -- the enemy had wrapped itself in the population. Together they were fewer than 6000 men. They had access to the best intel often coming directly from CIA. Pru had roots in the counterterror teams of the early 60s. In 66 the ct became prus. Details of the makeup and recruiting source of the prus. PRUsoften killed targets. Military participation in the pru program was to end in 10/70. Pru was the most effective action arm of the Phoenix Program. Details of the SEALs larger-than-life reputation earned in VN. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 171-199.

Vietnam, 65-72 During Nixon's first 2 1/2 years, state department officially admits that the CIA-run Phoenix Program murdered or abducted 35,708 VNese civilians, 4,836 more than the pentagon claimed the NLF had assassinated or kidnapped during the same period, and a monthly increase over the 200 killed by the CIA every month under johnson. Senator Gravel edition, (1971), Pentagon Papers v 300.

Vietnam, 65-73 Phoenix Program torture tactics include rape, electric shock, water torture, hanging from ceiling, beatings, incarceration and execution. Counterspy 5/73 16. Vietnam, 69-71 K. Barton Osborn, Phoenix agent, testified to Congress "I never knew an individual to be detained as a VC suspect who ever lived through an interrogation in a year and a half. Uc 114. Note says this testimony given before U.S. Congress,Heari. 315-321.

Vietnam, 73 "The prime difference between the types of intelligence provided to the military units and the Phoenix coordinator was that all information going to Phoenix was of a political nature ... I was following through on a reported (VC) suspect that one of my agents had identified. The man was interrogated at the marine counter-intelligence complex and I was invited to witness it. As I entered the hooch the man was being taken out, dead. He died from a six inch dowel pushed through his ear and into his brain." Barton Osborn, former Phoenix case officer before Armed Services Committee, 1973. Counterspy Spring/Summer 75 7.

Vietnam. Colby supervised est of pics in each of SVN's 44 provinces. Each center constructed with CIA funds. Agency personnel directed each centers op much of which consisted of torture carried out by VN nationals. Coi 207. Colby admitted serious abuses committed under Phoenix. Former intel officers came before Congressional cmttees to describe repeated examples torture. Marchetti, V., & Marks, J.D. (1974), The CIA and the Cult of Intelligence, 207 see fn.

Vietnam, 66-74 CIA analyst, Nelson H. Brickman, on 11/66 produced basic guidelines for [the Phoenix Program] in a memorandum that described the VCI and suggested which parts of it should be targeted. His memo said rank-and-file members were not legitimate targets "because they were most often unwilling participants in the revolution." Brickman called for using all available intelligence services to neutralize the VCI. Robert Komer was so impressed he assigned Brickman to the revolutionary development office. He adopted brickman's suggestion that there was no need to begin a new anti-vci program, only that the existing programs be brought together and managed by a single bureau. He recommended the U.S. Agencies get their houses in order before bringing in the gvn. Brickman "deserved the credit" for the Phoenix Program. A program called intel coordination and exploitation (icex) was the first structure. Evan parker named director of icex but komer had full control. U.S. Military reluctantly participated initially. Icex officially created on 7/9/67, although basic structure had been in place a year. Building of district ops and coordinating centers (doicc) which by late 67 were called district intel and ops coordinating centers (dioccs). MACV directive 381-41 stated: "to coordinate and give impetus to U.S. and gvn operations...Directed toward elimination of the VC infrastructure." Icex placed under cords. South Vietnamese were unwilling to take program seriously. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 58-70.

Vietnam, 67-72 K. Barton Osborn's testimony re the Phoenix Program before the house committee on government ops, 8/71. Osborn characterized program as a "sterile, depersonalized murder program." Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, xv-xvi.

Vietnam, 67 The Phoenix (Phung Hoang) program was officially born on 12/20/67 when the SVNese premier issued a decree. This differed from ICEX only in official SVNese support for the program. Seal-and-search op in Bui Cui village. LRRP ambush parties. People's self-defense forces (psdf) started after Tet, it was a nationwide system of local militias. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 72-81.

Vietnam, 68-70 PIOCCC had extensive dossiers on VCI and the chieu hoi program was the largest producer of Phoenix intel. 132. A criticism of Phoenix was the covert control by CIA. Despite influx of military advisers, CIA controlled chain of command and purse strings. Colby, top man of CORDS in 69 had been with CIA. American directors of Phoenix at national level were all CIA. In 7/69 the system changed. "Management and support facilities for Phoenix were officially transferred from the office of the special assistant to the ambassador (osa) (cia) to MACV, who assumed full responsibility for providing for or arranging monetary and logistical support through American channels." From July 69 on, CIA made up only a small part of the program. Details of numbers neutralized and differences between CIA and military estimates. The use of diocc VCI target folders, a simple prepared set of biographical, operational, and administrative questions. By the end of 1970 one hundred thousand copies had been distributed. A sophisticated computerized collation program called the Phung Hoang Management Info System (PHMIS) was implemented. The program combined the national police tracking system with VCI info to gear up police for handling both. PHMIS was manned by Vietnamese, using American advisers as trainers. 135-6. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 134.

Vietnam, 68 President Thieu with the help of William Colby, Komer's deputy for CORDS, drafted a decree that officially sanctioned Phoenix/Phung Hoang on 7/1/68. Article 3 was of paramount importance -- it defined who was or was not a member of the VCI. Article 3 -- definitions: the Viet Cong infrastructure is all Viet cong, political and administrative organizations established by the communist party which goes under the name people's revolutionary party, from the cities to the countryside. The Central Office of South Vietnam (COSVN) is the highest level steering organization...And the front for the liberation of South Vietnam (NLFSVN)....Viet Cong military units, members of mass organizations established by the Viet Cong, citizens forced to perform as laborers, or civilians in areas temporarily controlled by the Viet cong, are not classified as belonging to the Viet Cong infrastructure. Definition adjusted over time. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 84.

Vietnam, 94 VN rejects visit of ex-CIA chief Colby, now a Washington lawyer, who had planned to visit as a director of a U.S.-based investment fund. Fund directors had planned to hold a reception Monday. Event canceled, and directors will meet in Bangkok. Colby was CIA's chief in Saigon during war and was associated with Phoenix, an op to root out rural support for communist guerrillas via sweeping arrests, torture and execution of suspects. Critics said most of those killed were innocent peasants. Chicago Tribune 12/3/94 21.

Vietnam, accelerated pacification campaign, July 68 Thieu with Colby's help issued decree est Phoenix committees at national, regional and provincial and even district level, "to which all the agencies involved had to furnish representation." Colby, W. (1978). Honorable Men, 267.

Vietnam, Australia, Vietnam, 62-73 Australian AATTV teams operated in VN often in CIA Phoenix op. `Black team' commanded by American of australian usually given target figure. He pinpointed and black team would go out, usually dressed in enemy's gear and the assassination then blamed on VC. Toohey, B., & Pinwill, W. (1990), Oyster: The Story of the Australian Secret Intelligence Service 87-88.

Vietnam, icex intel coor and exploitation MACV/cia program to work on VCI with Vietnamese cooperation. Colby helped devise program which became Phoenix. Colby, W. (1978), Honorable Men 267.

Vietnam, National Security study memo, 67-69 said although Phoenix launched in Dec 67, Vietnamese cooperation minimal and only after American prodding, Thieu issued a decree in July 68 directing network to be set up. Program forced on VNese. Pru supervised, controlled and financed by Americans. Frazier, H. (ed). (1978), Uncloaking the CIA, 111-125.

Vietnam, Phoenix Program most notorious of counterinsurgency programs. Originated by robert w. Komer, who now headed Civilian Operations Revolutionary Development Staff (CORDS), Phoenix designed to root out secret Vietcong infrastructure in South Vietnam. Miller, N. (1989). Spying for America379.

Vietnam, Phoenix, 68-70 In 69 CIA apparently had attack squeamishness and pulled out of CORDS. Concluded Phoenix inappropriate. It believed North had moved away from military engagement to lacing entire gvt with spies -- possibly as many as 30,000 so Thieu's gvt could be easily overthrown. Baritz, L. (1985). Backfire, 269.

Vietnam, Phoenix op. Every person who ran program from Saigon assigned to program from CIA. Colby and 20,000 + figure of persons killed under Phoenix, see fn ag 440. Phoenix General Ranelagh, J. (1986), The Agency 436-441.

Vietnam, Phoenix Program, beginning circa 66-67 CORDS pacification program. Komer settled on massive intel program on VC who could be neutralized by SVN forces. First called ICEX. Name changed to Phoenix in 69 with SVN version phung hoang. Had interrogation centers in each of SVNs 235 districts and 44 provinces, card files and computerized indexes. Pru's of 50 to 100 men. In Phoenix CIA provided weapons, paid for Saigon computer files, funded and trained PRU's and passed intel to Phoenix. Colby told senate Phoenix killed 20,587 VCI. When questions arose re legality Colby retreated and said 87% killed in regular military actions. Two army lts. Told federal judge they order to maintain kill quota 50 VCI a month. Prados, J. (1986), Presidents' Secret Wars, 307-310.

Vietnam, Phoenix Program evaluation. Robert Komer wrote Phung Hoang has been a small, poorly managed, and largely ineffective effort. Clearly Phoenix failed to eliminate the infrastructure that remained after heavy losses of tet. Ce 274-8. Colby continued to see Phoenix as contributing usefully to attack on VC. Blaufarb, D.S. (1977), The Counterinsurgency Era, notes 328.

Vietnam, Phoenix Program, july 69 "Vietnam information notes" a State Dept publication says: target for 1969 calls for elimination of 1,800 VCI per month. Frazier, H. (ed). (1978). Uncloaking the CIA, 97.

Vietnam, Phoenix Program. Part of total pacification program of gvt VN. Colby testified that in over two and a half years there were 29,000 captured, 17,000 defected and 20,500 killed, of which 87% were killed by regular and paramilitary forces and 12% by police and similar elements. Vast majority killed in military combat, fire fights, or ambushes, and most of remainder were killed in police actions attempting to capture them. Major stress to encourage capture. Borosage, R.L., & Marks, J. (eds.). (1976), The CIA File, 190.

Vietnam, Phoenix Program. Quotas and indiscriminate killing of people. CIA conceived and organized program and regional and provincial officers in charge were all CIA. Colby actually wrote Phoenix directive which Thieu was finally pressured into adopting july 68 Colby conceded Phoenix recorded deaths of 20,587. Powers, T. (1979). The Man Who Kept the Secrets, 181-2.

Vietnam, Phoenix Program, 67-75 Targets members VCI. 637 Military intel advisers assigned to Phoenix. Much money given to VNese police to expand detention facilities. Phoenix org: first the district co - ordination center, diocc, that maintained dossiers on suspected VC. Once enough evidence person placed on police green list. Suspect then jailed without right to civilian trail. In cordon and search ops all villagers lined up and walk past police checkpoint. Next level province interrogation center, pic, staffed by SVNese, Americans and CIA. After interrogation, suspect passed on to province security committee, comprised of police chiefs, military and police intel and advisors. Finally suspects could be imprisoned under law for 2 years. This one way to neutralize. Other way via Provincial Reconnaissance Units, PRUs, who would kidnap or assassinate agents targeted by diocc. Had American advisors from SEALs, Green Berets. Official amnesty program called chieu hoi used to convince VC to surrender. VC categorized as a,b, or c. A were key members, c least impt. National police detention center processed 180,000 a year. American money and effort went into national identification card, id, project. All Vietnamese over age 15 jailed if did not carry a card a RAND computer tracked the 15 million suspects also cross-linked to 10 million dossiers and fingerprints. The Dossier issue 6, 11/83 14-5.

Vietnam, Phoenix, 72-73 The F-6 program was a defensive measure to bolster Phung Hoang after the Easter Offensive. F-6 sought to increase pressure on the VCI by allowing province chiefs to move against suspected cadre on the strength of a single report rather then the usual three. With the culmination of the F-6 program in early 73, the Phoenix Program came to an end. In the spring of 72 phung hoang was absorbed into the national police. The last American advisers left VN in december 72. Various tables, command structure charts in appendix. Andrade, D. (1990), Ashes to Ashes, 231-251.

Vietnam, 66-73 Phoenix Program synthesis police and pm programs. CIA man managing census grievance, rd cadre, counterterror teams and pics. Military intel working with mss, arvn intel and regional and popular forces. Aid managing chieu hoi and public safety, including field police. Needed to bring altogether under special police. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 99.

Vietnam, 67-73 CIA developed Phoenix Program in 67 to neutralize: kill, capture or make defect VCI. VCI means civilians suspected of supporting communists. Targeted civilians not soldiers. Phoenix also called phung hoang by VNese. Due process totally nonexistent. SVNese who appeared on black lists could be tortured, detained for 2 years without trial or killed. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 13.

Vietnam, 68-72 NLF according to Nixon adm decimated during Tet Offensive, remainder by Phoenix Program. Nvese officer reported Phoenix resulted in loss of thousands of our cadres. Proof in 2 remaining offensives. In 72 and in 75 they did not rely on guerrillas. Baritz, L. (1985), Backfire, 273.

Vietnam, 68 Phoenix Program quota of 1800 neutralizations per month. Viet Cong Infrastructure system (vciis) fed 3000 names VCI into computer at combined intel center political order battle section. Beginning of computerized blacklist. In Saigon DIA, FBI and CIA used computers. Until 70 computerized blacklist a unilateral American op. Valentine, D. (1990). The Phoenix Program, 259.